Chúa nhật IV Mùa Chay, năm A
Ông Đa-vít được xức dầu tấn phong làm vua Ít-ra-en.
Bài trích sách Sa-mu-en quyển thứ nhất.
1b Thời đó, Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en : “Ngươi hãy lấy dầu đổ đầy sừng và lên đường. Ta sai ngươi đến gặp Gie-sê người Bê-lem, vì Ta đã thấy trong các con trai nó một người Ta muốn đặt làm vua.”
6 Khi ông Gie-sê và các con trai ông đến, ông Sa-mu-en thấy Ê-li-áp, ông nghĩ : “Đúng rồi ! Người Đức Chúa xức dầu tấn phong đang ở trước mặt Đức Chúa đây !” 7 Nhưng Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en : “Đừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm : người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng.”
10 Ông Gie-sê cho bảy người con trai đi qua trước mặt ông Sa-mu-en, nhưng ông Sa-mu-en nói với ông Gie-sê : “Đức Chúa không chọn những người này.” 11 Rồi ông lại hỏi ông Gie-sê : “Các con ông có mặt đầy đủ chưa ?” Ông Gie-sê trả lời : “Còn cháu út nữa, nó đang chăn chiên.” Ông Sa-mu-en liền nói với ông Gie-sê : “Xin ông cho người đi tìm nó về, chúng ta sẽ không nhập tiệc trước khi nó tới đây.” 12 Ông Gie-sê cho người đi đón cậu về. Cậu có mái tóc hung, đôi mắt đẹp và khuôn mặt xinh xắn. Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en : “Đứng dậy, xức dầu tấn phong nó đi ! Chính nó đó !” 13a Ông Sa-mu-en cầm lấy sừng dầu và xức cho cậu, ở giữa các anh của cậu. Thần khí Đức Chúa nhập vào Đa-vít từ ngày đó trở đi. Đó là lời Chúa.
Bài đọc 2: Ep 5,8-14
Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào ! Đức Ki-tô sẽ chiếu sáng ngươi !
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô.
8 Thưa anh em, xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng ; 9 mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật. 10 Anh em hãy xem điều gì đẹp lòng Chúa. 11 Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng. 12 Vì những việc chúng làm lén lút, thì nói đến đã là nhục rồi. 13 Nhưng tất cả những gì bị vạch trần, đều do ánh sáng làm lộ ra ; 14 mà bất cứ điều gì lộ ra, thì trở nên ánh sáng. Bởi vậy, có lời chép rằng :
Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ !
Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào !
Đức Ki-tô sẽ chiếu sáng ngươi ! Đó là lời Chúa.
Tin Mừng: Ga 9,1-41
Anh mù đến rửa ở hồ Si-lô-ác và khi về thì nhìn thấy được.
✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
1 Khi ấy, ra khỏi Đền Thờ, Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. 2 Các môn đệ hỏi Người : “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta ?” 3 Đức Giê-su trả lời : “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. 4 Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng ; đêm đến, không ai có thể làm việc được. 5 Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.”
6 Nói xong, Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, 7 rồi bảo anh ta : “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa” (Si-lô-ác có nghĩa là : người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.
8 Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói : “Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao ?” 9 Có người nói : “Chính hắn đó !” Kẻ khác lại rằng : “Không phải đâu ! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi !” Còn anh ta thì quả quyết : “Chính tôi đây !” 10 Người ta liền hỏi anh : “Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế ?” 11 Anh ta trả lời : “Người tên là Giê-su đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo : ‘Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa.’ Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy.” 12 Họ lại hỏi anh : “Ông ấy ở đâu ?” Anh ta đáp : “Tôi không biết.”
13 Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu. 14 Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát. 15 Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời : “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.” 16 Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói : “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát” ; kẻ thì bảo : “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy ?” Thế là họ đâm ra chia rẽ. 17 Họ lại hỏi người mù : “Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh ?” Anh đáp : “Người là một vị ngôn sứ !”
18 Người Do-thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. 19 Họ hỏi : “Anh này có phải là con ông bà không ? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được ?” 20 Cha mẹ anh đáp : “Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. 21 Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó ; nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được.” 22 Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái. Thật vậy, người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô. 23 Vì thế, cha mẹ anh mới nói : “Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó.”
24 Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo : “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi.” 25 Anh ta đáp : “Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều : trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được !” 26 Họ mới nói với anh : “Ông ấy đã làm gì cho anh ? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào ?” 27 Anh trả lời : “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa ? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng ?” 28 Họ liền mắng nhiếc anh : “Có mày mới là môn đệ của ông ấy ; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê. 29 Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê ; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến.” 30 Anh đáp : “Kể cũng lạ thật ! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi ! 31 Chúng ta biết : Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi ; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. 32 Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. 33 Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.” 34 Họ đối lại : “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ?” Rồi họ trục xuất anh.
35 Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi : “Anh có tin vào Con Người không ?” 36 Anh đáp : “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” 37 Đức Giê-su trả lời : “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” 38 Anh nói : “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người. 39 Đức Giê-su nói : “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !”
40 Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giê-su nghe vậy, liền lên tiếng : “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao ?” 41 Đức Giê-su bảo họ : “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng : ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn !” Đó là lời Chúa.
_______________
ÁNH MẮT CHÚA, ÁNH MẮT XÓT THƯƠNG – Lm. Giuse Đỗ Đức
Thiên Chúa khi tạo dựng nên con người, đã cho con người có một đôi mắt, là một bộ phận rất đặc biệt, không chỉ để nhìn ngắm thế giới, mà còn có khả năng diễn tả những cung bậc cảm xúc sâu kín trong tâm hồn. Thuở còn thơ bé, ánh mắt con người trong sáng, đơn sơ và hồn nhiên như thiên thần. Khi lớn lên, ánh mắt mỗi người dần thay đổi theo thời gian, và nhất là thay đổi theo tính cách cũng như tình trạng tâm hồn. Người có tâm hồn thánh thiện, thật thà, trong sáng thì có ánh mắt cũng trong sáng; kẻ có tâm hồn u tối thì ánh mắt cũng chất chứa đen tối; người gian dối có cái nhìn gian dối; người hay phê bình, chỉ trích thì có ánh mắt dò xét. Vì thế, người ta thường nói: “Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn.”
Thưa quý OBACE, Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy: Thiên Chúa luôn nhìn con người bằng ánh mắt yêu thương và thấu cảm. Ngài không đánh giá con người theo dáng vẻ hay cái nhìn bên ngoài, nhưng nhìn thấu suốt tâm hồn mỗi người. Cái nhìn của Thiên Chúa là cái nhìn đem đến ơn cứu độ và giải thoát. Bởi lẽ, khi Thiên Chúa ghé mắt nhìn đến ai, thì Ngài tuôn đổ tình thương xuống trên người ấy.
Cái nhìn của Chúa Giêsu chính là cái nhìn đem lại ánh sáng ơn cứu độ. Nếu như ánh sáng mặt trời cần thiết và đem lại sự sống cho vũ trụ và con người, thì ánh sáng cứu độ của Chúa Giêsu cũng đem đến cho con người và vũ trụ sự sống mới, sự sống thần linh. Nếu như không có ánh sáng mặt trời, vũ trụ và con người chìm trong tối tăm và băng giá. Cũng vậy, nếu không có ánh sáng cứu độ của Đức Giêsu, vũ trụ và con người sẽ mãi chìm trong sự tối tăm lạnh giá của đau khổ và chết chóc.
Sách Samuel trong bài đọc một cho thấy sự khác biệt hoàn toàn giữa cái nhìn của Thiên Chúa và cái nhìn của con người. Khi ấy, tiên tri Samuel được Thiên Chúa sai đến Bêlem, vào nhà ông Giesê để xức dầu cho một trong các con ông làm vua Israel thay thế vua Saolê. Câu chuyện kể rằng: khi ông Samuel nhìn thấy đứa con trai lớn của Giesê - một chàng trai cao lớn, tướng mạo oai phong, ông liền định xức dầu cho anh, nhưng Thiên Chúa đã ngăn lại và phán: “Không phải người này. Vì Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy bề ngoài, nhưng Thiên Chúa nhìn thấu tận đáy lòng.”
Ông Giesê lần lượt giới thiệu cả bảy người con của mình với Samuel, nhưng Samuel đều đáp: “Thiên Chúa không chọn những người này.” Cuối cùng, ông còn một cậu con út đang đi chăn chiên. Ông Giesê liền cho gọi cậu về. Cậu út có mái tóc hoe vàng, đôi mắt sáng và gương mặt đẹp. Vừa thấy cậu, Thiên Chúa phán với Samuel: “Hãy đứng dậy xức dầu cho nó, vì chính nó là kẻ Ta chọn.” Samuel liền đứng dậy xức dầu cho Đavít. Điều này cho thấy, cái nhìn của Samuel hoàn toàn khác cái nhìn của Thiên Chúa. Samuel chọn những đứa con cao lớn, oai phong theo dáng vóc bên ngoài, theo tiêu chuẩn con người, còn Thiên Chúa đã nhìn thấu tâm hồn của Đavít và đã chọn cậu bé út, để sau này trở thành vua của Israel. Thiên Chúa thấy nơi Đavít - một thiếu niên nhỏ bé - để qua cậu, Ngài thực hiện những việc lớn lao. Ngài thấy nơi Đavít một con người yếu đuối nhưng hết lòng khiêm nhường trước mặt Thiên Chúa và trung thành thực thi ý Ngài. Thiên Chúa thấy Đavít là một con người sẵn sàng mở lòng ra với Thiên Chúa, vì thế Thiên Chúa đã đổ Thần Khí vào tâm hồn cậu: “Thần Khí Thiên Chúa nhập vào Đavít từ ngày đó trở đi.”
Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu trao ánh sáng cho người mù để anh nhìn rõ mọi sự. Đồng thời, qua phép lạ này, Chúa Giêsu cũng soi rọi vào tâm hồn anh ánh sáng cứu độ của Thiên Chúa. Câu chuyện một lần nữa cho thấy cái nhìn của Thiên Chúa hoàn toàn khác xa cái nhìn của con người. Người Do Thái có cái nhìn rất nghiệt ngã đối với người khác, nhất là những người bệnh tật. Họ cho rằng mọi bệnh hoạn đều do tội lỗi của đương sự hoặc của cha mẹ mà ra. Những căn bệnh nặng như bại liệt, câm điếc, mù lòa bị coi là hình phạt của Thiên Chúa.
Khi gặp người mù bẩm sinh ngồi ăn xin ở đền thờ, các môn đệ đã hỏi Chúa Giêsu về cái nhìn của người Do Thái: “Thưa Thầy, người này bị mù là do anh ta hay do bố mẹ của anh ta?” Chúa Giêsu đã chỉnh sửa cái nhìn xét đoán này và cho các môn đệ thấy cái nhìn của Thiên Chúa là cái nhìn cảm thông và xót thương: “Không phải do anh ta tội lỗi, cũng không phải do cha mẹ anh ta. Nhưng để công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh.” Điều này chứng tỏ, Chúa Giêsu không nhìn sự việc theo quan niệm “quả báo”, nhưng Người cho thấy mọi tình trạng đau khổ mà con người đang phải gánh chịu, là do ma quỷ gây ra. Qua những đau khổ khiếm khuyết này, Thiên Chúa sẽ thể hiện quyền năng của Ngài. Thiên Chúa không làm ngơ trước đau khổ của con người, Ngài đã dùng quyền năng để chiến thắng ma quỷ và qua cái chết và sự sống lại, Ngài mang lại sự sống cho nhân loại. Qua việc Chúa chữa cho anh mù được nhìn thấy, là dịp để Thiên Chúa tỏ bày quyền năng của Ngài vượt trên tất cả đau khổ, bệnh tật, chết chóc và vượt trên cả ma quỷ cùng tội lỗi. Qua phép lạ này, Chúa Giêsu còn cho mọi người nhận ra rằng chính Người là Ánh Sáng.
Trong lần thực hiện phép lạ này, chúng ta thấy anh mù chưa hề ngỏ lời cầu xin, cũng chẳng có môn đệ hay người nào lên tiếng xin Chúa chữa cho anh. Vậy mà, Chúa Giêsu đã chủ động chữa lành cho anh. Ở những phép lạ khác, Chúa thường ra lệnh: “Hãy trỗi dậy”, “Hãy nhìn xem”... Nhưng lần này, Người ban cho anh mù một dấu chỉ và muốn anh cộng tác bằng lòng tin: “Chúa nhổ nước miếng xuống đất, nhào thành bùn, bôi lên mắt anh và bảo: Anh hãy đến hồ Silôê mà rửa. Anh đã đi, đã rửa, và khi trở về, anh nhìn thấy được.” Phép lạ này có hai yếu tố: Việc Chúa bôi bùn vào mắt anh mù là một dấu chỉ, và việc anh tin tưởng làm theo lời Chúa truyền đã giúp anh đón nhận ơn chữa lành.
Anh mù trong câu chuyện không chỉ được Chúa Giêsu cho sáng mắt về thể xác, nhưng qua phép lạ này anh đã được sáng đôi mắt tâm hồn. Trong khi những người Do Thái khác cũng chứng kiến phép lạ tỏ tường, họ xác định anh chính là người mù vẫn ngồi ăn xin nay được sáng mắt, nhưng họ vẫn không tin vào Chúa Giêsu. Còn anh mù này đã mạnh dạn trả lời những chất vấn của các người biệt phái: “Ông ấy thoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng.” Anh còn quả quyết: “Ông ấy chắc chắn là một ngôn sứ.” Khi Đức Giêsu nghe biết anh bị những người biệt phái chất vấn, hạch hỏi, lúc gặp lại anh trong đền thờ, Chúa hỏi anh: “Anh có tin vào Con Người không? Chính Người đang nói với anh đây!” Người mù liền tuyên xưng: “Thưa Ngài, tôi tin!” Đức tin còn non trẻ của anh ngay từ lúc khởi đầu đã gặp thử thách bởi chính những người đồng hương và đồng đạo với mình. Chúa Giêsu chính là Người đã nâng đỡ đức tin cho anh khi Người bước đến với anh, mời gọi anh xác tín cách chắc chắn vào Người. Anh mù này đã thể hiện lòng tin của mình bằng việc: Anh sấp mình xuống trước mặt Chúa Giêsu. Việc sấp mình thờ lạy là thái độ của người Do Thái khi diện kiến Thiên Chúa, giờ đây người mù này đã tin Đức Giêsu là Thiên Chúa nên anh đã sấp mình thờ lạy Người.
Thưa quý OBACE, theo thánh Phaolô trong bài đọc hai, trước khi được thanh tẩy để đón nhận ơn cứu độ, chúng ta thuộc về bóng tối, bị vây bủa bởi màn đen của tội lỗi và ma quỷ. Nhưng nay, nhờ Đức Giêsu, chúng ta đã trở nên con cái ánh sáng. Vì thế, chúng ta được mời gọi sống như con cái ánh sáng, sống giữa ban ngày, không để trong mình những điều mờ ám của tội lỗi và gian dối.
Là con cái ánh sáng, chúng ta xin Chúa mở mắt đức tin để chúng ta nhận ra sự hiện diện và quyền năng của Thiên Chúa đang thực hiện trên cuộc đời, trong gia đình và mọi biến cố của xã hội, kể cả trong những khiếm khuyết và khổ đau. Nhờ siêng năng đến với Thánh lễ, rước lễ và nghe Lời Chúa, chúng ta được mời gọi thanh tẩy con mắt đức tin mỗi ngày, để ngày càng xác tín hơn vào Đức Giêsu là Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ nhân loại.
Chúng ta thường mang trong mình cái nhìn thành kiến, ác cảm và tiêu cực về người khác, cái nhìn ganh ghét, không muốn thấy họ hạnh phúc hay thành công hơn mình. Xin Chúa cũng rửa sạch đôi mắt chúng ta khỏi lối nhìn xét đoán ấy, và thay vào đó là đôi mắt của Chúa, để chúng ta có thể nhìn nhau cách tích cực, bao dung, quảng đại và đầy xót thương.
Chàng thanh niên khuyết tật Nick Vujicic, khi sinh ra đã không có tay chân, chỉ có một mẩu xương ngắn thay cho đôi chân. Vậy mà anh đã cố gắng để sinh hoạt, thể thao như người bình thường và nhất là anh đã trở thành một chứng nhân trong đời sống đức tin qua các chuyến đi thuyết trình, truyền nghị lực sống trên khắp thế giới. Anh từng chia sẻ: “Lúc đầu, tôi rất mặc cảm về sự khiếm khuyết của mình. Nhiều lần tôi đã oán trách Chúa: 'Tại sao con lại sinh ra khiếm khuyết thế này?' Và rồi, một lần đọc đoạn Tin Mừng Chúa chữa lành cho người mù, khi các môn đệ hỏi Chúa: 'Thưa Thầy, người này bị mù do ai?' Chúa đã trả lời: 'Không phải do anh ta tội lỗi hay do cha mẹ anh ta, nhưng để công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện.' Từ đó, tôi tin rằng Thiên Chúa cũng muốn dùng tôi để thể hiện quyền năng của Ngài, và muốn tôi trở thành người nói về tình thương của Thiên Chúa.”
Xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta được mang cái nhìn của Chúa, để chúng ta biết dành cho nhau cái nhìn yêu thương, tha thứ và cảm thông như Chúa hằng đoái nhìn chúng ta. Amen!
